Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát

 
 

 

QUYỂN THỨ SÁU

Đời Diêu Tần ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập vâng chiếu dịch. Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Việt Dịch

 

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 

PHẨM "PHÁP SƯ CÔNG-ĐỨC" THỨ MƯỜI CHÍN

         

1. Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Thường-Tinh-Tấn đại Bồ-tát rằng: "Nếu có Thiện-nam-tử, Thiện-nữ-nhơn thọ trì Kinh Pháp-Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ đặng tám trăm công đức nơi mắt, một nghìn hai trăm công đức nơi tai, tám trăm công đức nơi mũi, một nghìn hai trăm công đức nơi lưỡi, tám trăm công đức nơi thân, một nghìn hai trăm công đức nơi ý, dùng những công đức này trang nghiêm sáu căn đều được thanh tịnh.

          Thiện-nam-tử và Thiện nữ-nhơn đó, nhục nhãn thanh tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy khắp cõi Tam-thiên Đại-thiên, trong ngoài có những núi, rừng, sông, biển, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến cõi trời Hữu-đảnh, cũng thấy tất cả chúng sanh trong đó và nghiệp nhơn duyên quả báo chỗ sanh ra thảy đều thấy biết.

          Khi đó, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Nếu người ở trong chúng

Dùng tâm không sợ sệt

Nói Kinh Pháp-Hoa này

Ông nghe công đức đó

Người đó đặng tám trăm

Công đức thù thắng nhãn

Do dùng đây trang nghiêm

Mắt kia rất thanh tịnh.

Mắt thịt cha mẹ sanh

Thấy cả cõi Tam-thiên

Trong ngoài núi Di-lâu

Núi Tu-di, Thiết-vi

Và các núi rừng khác

Biển lớn nước sông ngòi

Dưới đến ngục A-tỳ

Trên đến trời Hữu-đảnh

Chúng sanh ở trong đó

Tất cả đều thấy rõ

Dầu chưa đặng thiên nhãn

Sức nhục nhãn như thế.

          3. Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu người Thiện-nam-tử, Thiện nữ-nhơn, thọ trì Kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc biên chép, hoặc giải nói, đặng một nghìn hai trăm nhĩ công đức, dùng tai thanh tịnh đó, nghe khắp cõi Tam-thiên Đại thiên, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến trời Hữu-đảnh, trong ngoài các thứ lời lẽ giọng tiếng:

          Tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc la, tiếng buồn than, tiếng ốc, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng linh, tiếng cười, tiếng nói, tiếng trai, tiếng gái, tiếng đồng-tử, tiếng đồng-nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng Thánh nhơn, tiếng đáng ưa, tiếng chẳng đáng ưa, tiếng Trời, tiếng Rồng, tiếng Dạ-xoa, tiếng Càn-thát-bà, tiếng A-tu-la, tiếng Ca-lâu-la, tiếng Khẩn-na-la, tiếng Ma-hầu-la-dà, tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, tiếng Địa-ngục, tiếng Súc sanh, tiếng Ngạ-quỷ, tiếng Tỳ-kheo, tiếng Tỳ-kheo-ni, tiếng Thanh-văn, tiếng Bích-Chi-Phật, tiếng Bồ-tát, tiếng Phật.

          Nói tóm đó, trong cõi Tam-thiên Đại-thiên, tất cả trong ngoài có các thứ tiếng, dầu chưa đặng thiên nhĩ dùng tai tầm thường thanh tịnh của cha mẹ sanh, thảy đều nghe biết, phân biệt các thứ tiếng tăm như thế, mà chẳng hư nhĩ căn.

          Lúc đó, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

 

4. Tai cha mẹ sanh ra

Trong sạch không đục nhơ

Dùng tai thường này nghe

Cả tiếng cõi Tam-thiên

Tiếng voi, ngựa, trâu, xe

Tiếng chung linh loa cổ

Tiếng cầm, sắc, không hầu

Tiếng ống tiêu, ống địch

Tiếng ca hay thanh tịnh

Nghe đó mà chẳng ham.

Tiếng vô số giống người

Nghe đều hiểu rõ đặng

Lại nghe tiếng các Trời

Tiếng ca rất nhiệm mầu

Và nghe tiếng trai, gái,

Tiếng đồng-tử, đồng-nữ

Trong núi sông hang hiểm

Tiếng Ca-Lăng-Tần-Dà

Cộng-mạng các chim thảy

Đều nghe tiếng của nó.

Địa-ngục các đau đớn

Các thứ tiếng độc khổ

Ngạ quỷ đói khát bức

Tiếng tìm cầu uống ăn

Các hàng A-tu-la

Ở nơi bên biển lớn

Lúc cùng nhau nói năng

Vang ra tiếng tăm lớn

Như thế người nói pháp

An trụ ở trong đây

Xa nghe các tiếng đó

Mà chẳng hư nhĩ căn.

Trong cõi nước mười phương

Cầm thú kêu hô nhau

Người nói Kinh Pháp-Hoa

Ở đây đều nghe đó.

Trên các trời Phạm-thiên

Quang-âm cùng Biến-Tịnh

Nhẫn đến trời Hữu-đảnh

Tiếng tăm của kia nói

Pháp sư ở nơi đây

Thảy đều đặng nghe đó.

Tất cả chúng Tỳ-kheo

Và các Tỳ-kheo-ni

Hoặc đọc tụng Kinh điển,

Hoặc vì người khác nói

Pháp sư ở nơi đây

Thảy đều đặng nghe đó.

Lại có các Bồ-tát

Đọc tụng nơi Kinh pháp

Hoặc vì người khác nói

Soạn tập giải nghĩa Kinh

Các tiếng tăm như thế

Thảy đều đặng nghe đó.

Các Phật đấng Đại thánh

Giáo hóa hàng chúng sanh

Ở trong các đại hội

Diễn nói pháp nhiệm mầu

Người trì Pháp-Hoa này

Thảy đều đặng nghe đó.

Cõi Tam-thiên Đại-thiên

Các tiếng tăm trong ngoài

Dưới đến ngục A-tỳ(1)

Trên đến trời Hữu-đảnh(2)

Đều nghe tiếng tăm kia

Mà chẳng hư nhĩ căn.

Vì tai kia sáng lẹ

Đều hay phân biệt biết

Người trì Kinh Pháp-Hoa

Dầu chưa đặng Thiên nhĩ

Chỉ dùng tai sanh ra

Công đức đã như thế.

          5. Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu có Thiện-nam-tử, Thiện nữ-nhơn, thọ trì Kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, trọn nên tám trăm tỹ công đức, dùng tỹ căn thanh-tịnh đó nghe khắp cõi Tam-thiên Đại-thiên, trên dưới trong ngoài các thứ mùi: mùi bông Tu-mạn-na, mùi bông Xà-đề, mùi bông Mạt-lợi, mùi bông Chiêm-bặc, mùi bông Ba-la-la, mùi bông Sen đỏ, mùi bông Sen xanh, mùi bông Sen trắng, mùi cây có bông, mùi cây có trái, mùi Chiên-đàn, mùi Trầm-thủy, mùi Đa-ma-la-bạt, mùi Đa-dà-la, đến trăm nghìn thứ hòa lộn, hoặc là bột, hoặc là viên, hoặc là hương xoa, người trì Kinh này ở trong đây đều có thể phân biệt.

          Và lại rõ biết mùi chúng sanh: mùi voi, mùi ngựa, mùi dê, trâu v.v... Mùi trai, mùi gái, mùi đồng-tử, mùi đồng-nữ và mùi cỏ cây lùm rừng, hoặc gần, hoặc xa, bao nhiêu thứ mùi có ra, thảy đều đặng nghe rõ biết chẳng lầm.

          Người trì Kinh này dầu ở nơi đây cũng nghe mùi trên các cõi trời: mùi cây Ba-lợi-chất-đa-la, cây Câu-bệ-đà-la, cùng mùi bông Mạn-đà-la, bông Đại-mạn-đà-la, bông Mạn-thù-sa, bông Đại-mạn-thù-sa, mùi gỗ Chiên-đàn, Trầm-thủy các thứ hương bột, mùi các hoa đẹp. Các thứ hương trời như thế hòa hiệp thoảng ra mùi thơm đều nghe biết.

          Lại nghe mùi nơi thân của các vị trời: mùi của Thích-Đề-Hoàn-Nhơn lúc ở trên thắng điện, năm món dục vui chơi, hoặc mùi lúc ở trên diệu pháp đường vì các vị trời Đao-Lợi nói pháp, hoặc mùi lúc dạo chơi trong vườn, cùng mùi nơi thân của các vị trời nam nữ khác, thảy đều xa nghe biết. Xoay vần như thế nhẫn đến trời Phạm-thế, trên đến mùi nơi thân các vị trời Hữu-đảnh cũng đều nghe biết.

          Và nghe mùi hương của các vị trời đốt và mùi Thanh-văn, mùi Bích-Chi-Phật, mùi Bồ-tát, mùi nơi thân các Đức Phật, cũng đều xa nghe biết chỗ ở của đó. Dầu nghe biết hương ấy, nhưng nơi tỹ căn không hư không sai, nếu muốn phân biệt vì người khác nói, ghi nhớ không lầm.

          Lúc đó, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Người đó mũi thanh-tịnh

Ở trong thế giới này

Hoặc vật thơm hoăc hôi

Các thứ đều nghe biết.

Tu-mạn-na, Xà-đề

Đa-ma-la, Chiên-đàn

Trầm-thủy và mùi quế

Mùi các thứ bông trái

Và biết mùi chúng sanh:

Mùi nam tử, nữ nhơn

Người nói pháp ở xa

Nghe mùi biết chỗ nào.

Đại-thế Chuyển-luân-vương

Tiểu Chuyển-luân và con

Bầy tôi, các cung nhơn

Nghe mùi biết chỗ nào.

Trân bửu đeo nơi thân

Cùng tạng báu trong đất

Bửu nữ của Luân-vương

Nghe hương biết chỗ nào.

Mọi người đồ nghiêm thân

Y phục và chuỗi ngọc

Các thứ hương xoa thân

Nghe mùi biết thân kia

Các trời hoặc đi, ngồi

Dạo chơi và thần biến

Người trì Pháp-Hoa này

Nghe mùi đều biết đặng.

Các cây bông trái hột

Và mùi thơm dầu tô

Người trì Kinh ở đây

Đều biết ở chỗ nào.

Các núi, chỗ sâu hiểm

Cây Chiên-đàn nở hoa

Chúng sanh ở trong đó

Nghe mùi đều biết đặng.

Núi Thiết-vi, biển lớn

Các chúng sanh trong đất

Người trì Kinh nghe mùi

Đều biết đó ở đâu.

Trai gái A-tu-la

Và quyến thuộc của chúng

Lúc đánh cải, dạo chơi

Nghe hương đều biết đặng.

Đồng trống chỗ hiễm trở

Sư-tử, voi, hùm, sói

Bò rừng, trâu nước thảy

Nghe hương biết chỗ ở.

Nếu có người nghén chữa

Chưa rõ trai hay gái

Không căn và phi nhơn

Nghe mùi đều biết đặng.

Do vì sức nghe mùi

Biết người mới nghén chửa

Thành tựu hay chẳng thành

An vui đẻ con phước.

Do vì sức nghe mùi

Biết tâm niệm trai, gái

Lòng nhiễm dục ngu, hờn

Cũng biết người tu hành

Các phục tàng trong đất

Vàng, bạc, các trân bửu

Đồ đồng chỗ đựng chứa

Nghe mùi đều biết được

Các thứ chuỗi ngọc báu

Không ai biết giá mấy

Nghe mùi biết mắc rẻ

Chỗ sản xuất ở đâu.

Các thứ hoa trên trời

Mạn-đà, Mạn-thù-sa

Cây Ba-lợi-chất-đa

Nghe mùi đều biết được.

Các cung điện trên trời

Thượng, trung, hạ sai khác

Các hoa báu trang nghiêm

Nghe hương đều biết được.

Thắng điện vườn rừng trời

Các nhà diệu pháp đường

Ở trong đó vui chơi

Nghe mùi đều biết được.

Các Trời hoặc nghe pháp

Hoặc lúc hưởng ngủ dục

Lại, qua, đi, ngồi, nằm

Nghe mùi đều biết được.

Thiên nữ mặc y phục

Hoa hương tốt trang nghiêm

Lúc quanh khắp dạo chơi

Nghe mùi đều biết được.

Lần lựa lên như thế

Nhẫn đến trời Phạm-thế

Nhập thiền cùng xuất thiền

Nghe mùi đều biết được.

Trời Quang-âm Biến-tịnh(3)

Nhẫn đến nơi Hữu-đảnh

Mới sanh và lui chết

Nghe hương đều biết được.

Các hàng Tỳ-kheo chúng

Nơi pháp thường tinh-tấn

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Và đọc tụng Kinh điển

Hoặc ở dưới rừng cây

Chuyên ròng mà ngồi thiền

Người trì Kinh nghe mùi

Đều biết ở tại đâu.

Bồ-tát chí bền chắc

Ngồi thiền hoặc đọc tụng

Hoặc vì người nói pháp

Nghe mùi đều biết được.

Nơi nơi chỗ Thế-Tôn

Được mọi người cung kính

Thương chúng mà nói pháp

Nghe mùi đều biết được .

Chúng sanh ở trước Phật

Nghe Kinh đều vui mừng

Đúng pháp mà tu hành

Nghe mùi đều biết đặng.

Dầu chưa đặng vô-lậu

Pháp sanh tỹ Bồ-tát

Mà người trì Kinh đây

Trước đặng tướng mũi này.

         

          7. Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu có Thiện-nam-tử cùng Thiện nữ-nhơn, thọ trì Kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, đặng một nghìn hai trăm thiệt công đức.

          Những món hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc ngon, hoặc dở và các vật đắng chát, ở trên lưỡi của người đó, đều biến thành vị ngon như vị cam lồ trên trời, không món nào là chẳng ngon.

          Nếu dùng thiệt căn đó ở trong đại chúng nói pháp có chỗ diễn ra tiếng sâu mầu có thể vào tâm chúng, đều làm cho vui mừng sướng thích.

         Lại các vị Thiên-tử, Thiên-nữ, các trời Thích, Phạm, nghe tiếng tăm thâm diệu này diễn nói ngôn luận thứ đệ, thảy đều đến nghe. Và các hàng Long, Long nữ, Dạ-xoa, Dạ-xoa nữ, Càn-thát-bà, Càn-thát-bà nữ, A-tu-la, A-tu-la nữ, Ca-lầu-la, Ca-lầu-la nữ, Khẩn-na-la, Khẩn-na-la nữ, Ma-hầu-la-dà, Ma-hầu-la-dà nữ, vì để nghe pháp mà đều đến gần gũi cung kính cúng dường.

          Và Tỳ-kheo, Ty-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Quốc vương, Vương tử, quần thần, quyến thuộc, Tiểu Chuyển-luân-vương, Đại Chuyển-luân-vương, bảy báu, nghìn người con, cùng quyến thuộc trong ngoài, ngồi cung điện đồng đến nghe pháp.

        Vì vị Bồ-tát này khéo nói pháp, nên hàng Bà-la-môn, Cư-sĩ, nhơn dân trong nước trọn đời theo hầu cúng dường. Lại các Thanh-văn, Bích-chi Phật, Bồ-tát, các Đức Phật thường ưa thấy người đó, người đó ở chỗ nào, các Đức Phật đều xoay về phía đó nói pháp, người đó đều hay thọ trì tất cả Phật pháp, lại có thể nói ra tiếng pháp sâu mầu.

          Khi đó, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8. Người đó lưỡi thanh-tịnh

Trọn không thọ vị xấu

Người đó ăn uống chi

Đều biến thành cam-lộ.

Dùng tiếng hay thâm tịnh

Ở trong chúng nói pháp

Đem các nhơn duyên dụ

Dẫn dắt lòng chúng sanh

Người nghe đều vui mừng

Bày đồ cúng dường tốt.

Các Trời, Rồng, Dạ-xoa

Cùng A-tu-la thảy

Đều dùng lòng cung kính

Mà đồng đến nghe pháp

Người nói Kinh pháp đó

Nếu muốn dùng tiếng mầu

Khắp cùng cõi Tam-thiên

Tùy ý liền được đến.

Đại, Tiểu Chuyển-luân Vương

Và nghìn con quyến thuộc

Chắp tay lòng cung kính

Thường đến nghe thọ pháp,

Các Trời, Rồng, Dạ-xoa

La-sát, Tỳ-xá-xà

Cũng dùng lòng vui mừng

Thường ưa đến cúng dường,

Phạm-thiên vương, Ma vương,

Tự-tại, Đại tự-tại

Các chúng trời như thế

Thường đến chỗ người đó.

Các Phật cùng đệ tử

Nghe người nói tiếng pháp

Thương nhớ giữ gìn cho

Hoặc lúc vì hiện thân.

          9. Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu có Thiện-nam-tử cùng Thiện nữ-nhơn, thọ trì Kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, đặng tám trăm thân công đức, đặng thân thanh-tịnh như lưu-ly sạch chúng sanh ưa thấy. Vì thân đó trong sạch nên chúng sanh trong cõi Tam-thiên Đại-thiên, lúc sanh lúc chết, trên dưới, tốt xấu, sanh chỗ lành, chỗ dữ v.v... đều hiện rõ trong đó.

          Và núi Thiết-vi, núi Đại Thiết-vi, núi Di-lâu, núi Đại-Di-lâu v.v... các núi cùng chúng sanh ở trong đó đều hiện rõ trong thân, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến trời Hữu-đảnh cảnh vật cùng chúng sanh đều hiện rõ trong thân. Hoặc là Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát cùng Chư Phật nói pháp đều hiện sắc tượng ở trong thân.

          Bấy giờ, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

  10. Nếu người trì Pháp-Hoa

Thân thể rất thanh-tịnh

Như lưu-ly sạch kia

Chúng sanh đều ưa thấy.

Lại như gương sáng sạch

Đều thấy các sắc tượng

Bồ-tát nơi tịnh thân

Thấy cả vật trong đời

Chỉ riêng mình thấy rõ

Người khác không thấy được.

Trong cõi nước Tam-thiên

Tất cả các chúng sanh

Trời, Người, A-tu-la,

Địa ngục, Quỷ, Súc sanh

Các sắc tượng như thế

Đều hiện rõ trong thân.

Cung điện của các trời

Nhẫn đến trời Hữu-đảnh

Núi Thiết-vi, Di-lâu

Núi Ma-ha Di-lâu

Các biển nước lớn thảy

Đều hiện ở trong thân.

Các Phật cùng Thanh-văn

Phật tử Bồ-tát thảy

Hoặc riêng, hoặc tại chúng

Nói pháp thảy đều hiện.

Dầu chưa đặng diệu thân

Pháp tánh sạch các lậu

Dùng thân thanh-tịnh thường

Tất cả hiện trong đó.

          11. Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Sau khi Đức Như-Lai diệt độ, nếu có người Thiện-nam-tử cùng Thiện-nữ-nhơn, thọ trì Kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thời đặng một nghìn hai trăm ý công đức.

          Dùng ý căn thanh-tịnh đó nhẫn đến nghe một kệ, một câu, suốt thấu vô-lượng vô biên nghĩa, hiểu nghĩa đó rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến một tháng, bốn tháng nhẫn đến một năm. Các pháp nói ra tùy nghĩa thú kia đều cùng thiệt tướng chẳng trái nhau.

          Nếu nói kinh sách trong đời, lời lẽ trị thế, nghề-nghiệp nuôi sống v.v... đều thuận Chánh pháp. Sáu đường chúng sanh trong cõi Tam-thiên Đại-thiên, lòng nghĩ tưởng, lòng động tác, lòng hý luận, thảy đều biết đó.

          Dầu chưa đặng trí-huệ Vô-lậu mà ý căn thanh-tịnh như thế, người đó có suy nghĩ, tính lường, nói năng những chi thời đều là Phật pháp cả, không có gì là chẳng chơn thiệt, cũng là lời trong Kinh của các Phật thuở trước nói.

          Bấy giờ, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

    12. Ý người đó thanh-tịnh

Sáng lanh không đục nhơ

Dùng ý căn tốt đó

Biết pháp: thượng, trụng, hạ

Nhẫn đến nghe một kệ

Thông đạt vô-lượng nghĩa

Thứ đệ nói đúng pháp

Tháng, bốn tháng, đến năm.

Trong ngoài của cõi này

Tất cả các chúng sanh

Hoặc Trời, Rồng và Người

Dạ-xoa, Quỷ, Thần thảy

Kia ở trong sáu đường

Nghĩ tưởng bao nhiêu điều

Phước báo trì Pháp-Hoa

Đồng thời thảy đều biết.

Vô số Phật mười phương

Trăm phước tướng trang nghiêm

Vì chúng sanh nói pháp

Đều nghe hay thọ trì.

Suy gẫm vô-lượng nghĩa

Nói pháp cũng vô-lượng

Sau trước chẳng quên lộn

Bởi thọ trì Pháp-Hoa

Trọn biết các pháp tướng

Theo nghĩa rõ thứ đệ

Suốt danh tự ngữ ngôn

Như chỗ biết diễn nói.

Người đó có nói ra

Là pháp của Phật trước

Vì diễn nói pháp này

Ở trong chúng không sợ.

Người trì Kinh Pháp-Hoa

Ý căn tịnh như thế

Dầu chưa đặng Vô-lậu

Trước có tướng dường ấy.

Người đó trì Kinh này

An trụ bậc hy hữu

Được tất cả chúng sanh

Vui mừng mà mến kính.

Hay dùng nghìn muôn ức

Lời lẽ rất hay khéo

Phân biệt mà nói pháp

Bởi trì Kinh Pháp-Hoa.


 

Thích nghĩa:

 

(1) NGỤC A-TỲ: Vô gián địa ngục, người ở trong địa ngục này một ngày một đêm, muôn lần chết muôn lần sống, bị khổ hình không giây phút nào ngớt nghỉ nên gọi là vô gián.

(2) TRỜI HỮU-ĐẢNH: Cõi Trời cùng tột, cũng là chót của ba cõi.

(3) TRỜI QUANG-ÂM, BIẾN TỊNH: Quang-Âm thiên là một trong ba từng trời nhị thiền cũng là từng thứ ba, Biến-Tịnh thiên là một trong ba từng tam thiền, cũng là từng thứ ba.