Chương Thứ Ba
Phẩm Đệ Tử
(The Disciples’ Reluctance to Visit Vimalakirti)
Hàng
Thanh Văn
Tôn giả Đại Ca Diếp
(Mahakàsyapa): Vấn Đề Khất
Thực.
Tôn giả Đại Ca Diếp xuất thân là con nhà
giàu có, phú hộ, nhưng khi xuất gia theo Phật lại kham nhẫn tu
theo khổ hạnh đầu đà. Trên hội Linh Sơn, khi Phật cầm cành hoa
sen đưa lên mà tất cả đại chúng đều ngơ ngác không biết ý nghĩa
là gì, duy chỉ có tôn giả đắc ý nên cười chúm chím. Vì thế mới
có câu: “Niêm hoa vi tiếu”. Tâm ông cảm thông với tâm Phật nên
được Đức Thế Tôn phó chúc làm sơ tổ thiền tông của Phật giáo. Về
sau đem y, bát của Phật Thích Ca vào núi Kê Túc mà nhập định và
chờ đến khi Phật Di Lặc ra đời sẽ trao lại. Tôn giả là đại đệ tử
có đức hạnh cao và chỉ đi khất thực nhà nghèo chớ không khất
thực nhà giàu vì ông nghĩ rằng người nghèo là tại vì họ thiếu
phước đức nên tôn giả đến khất thực là để tạo duyên cho họ có
dịp bố thí mà tạo phước điền thì sau nầy sẽ được giàu sang sung
sướng.
Khất thực là một hạnh trong mười hai hạnh
đầu đà. Tôn giả mặc áo phấn tảo tức là chiếc áo được kết bằng
những tấm giẻ rách lượm ở nghĩa địa và không được ngủ dưới gốc
cây quá ba đêm vì sẽ sanh tâm tham. Ngài không giữ tiền, không
có của cải mà tài sản duy nhất chỉ có tam y nhất bát mà thôi.
Có phải khất thực, đi xin ăn là làm biếng, là ăn bám xã hội
chăng? Nếu như thế thì tại sao chính Đức Phật lại thực hành?
Theo Phật giáo muốn giải thoát tâm mình ra
khỏi mọi hệ lụy của phiền não khổ đau thì người tu hành phải
chấp nhận buông xả. Có thì phải lo phải giữ. Nhà càng lớn thì lo
càng nhiều. Ngay cả chùa càng to thì phiền não cũng to theo. Vì
thế đối với họ của cải vật chất thế gian là sợi giây vô hình cột
chặt con người vào vòng sinh tử. Do đó sau khi thành Phật, chính
Đức Thế Tôn cũng noi theo chư Phật đời trước mà đi khất thực.
Tại sao? Bởi vì chư Tăng không giữ tiền bạc nên không mua bán,
không nấu ăn. Hằng ngày họ đến từng nhà khất thực để mọi người
có cơ hội bố thí mà tạo phước đức và nhân dịp đó chư Tăng nói
pháp khuyên người nên tu tâm dưỡng tánh, làm lành lánh dữ… Khi
đi khất thực họ không phân biệt thức ăn chay hay mặn, thí chủ
cúng món gì thì họ thọ dụng món nấy. Nếu vị Tăng chỉ biết ăn
chay mà thí chủ không biết cúng đồ mặn thì họ lấy tay che bình
bát lại. Sau khi nhận thực phẩm họ luôn chú nguyện cho thí chủ
phước huệ được tăng trưởng, thân tâm an lạc rồi tùy duyên mà nói
pháp. Vì ngày xưa Đức Phật và chư đệ tử chỉ thọ trai mỗi ngày
một lần nên cái bình bát tương đối hơi lớn cho nên họ phải đi
nhiều nhà thì bình bát mới đầy. Khi thấy đủ thức ăn thì họ về
tịnh xá hay nơi có gốc cây thanh tịnh, trộn chung các thức ăn
với nhau để không còn phân biệt món nầy món khác, món ngon món
dở, không phân biệt mùi vị rồi mới ăn. Đối với họ ăn để sống chớ
không phải chạy theo mùi vị thơm ngon. Có được như thế thì mới
phá nổi cái chấp. Tâm không còn dính mắc thì mới tu thanh tịnh
được. Khất thực cũng là một phương pháp phá trừ ngã chấp, đánh
tan tập khí ngã mạn. Không nấu nướng thì khỏi cần tiền mua bán
cho nên chư Tăng dành nhiều thì giờ cho việc tu học và thiền
định. Còn thí chủ thì có cơ hội bố thí tạo phước điền và được
nghe những lời dạy bảo mà tu hành mở mang trí tuệ. Như vậy khất
thực rõ ràng là vì lòng từ bi, vì lợi ích cho chúng sinh, vì
phương tiện tu hành, vì tự độ và độ tha và hai bên cùng lợi lạc
nên khất thực không phải là lười biếng hay ăn bám xã hội. Sau
khi thọ trai xong, chư tăng còn cả buổi chiều để nghe pháp, tu
thiền hay niệm Phật…
Ngày nay những nước tu theo Phật giáo Tiểu
thừa như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cam Pô Chia… thì
chư Tăng vẫn còn khất thực. Họ quấn y và đi chân đất như thời
Phật còn tại thế. Còn những nước theo Phật giáo Đại thừa như
Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc… thì chỉ còn một số rất
ít chư Tăng đi khất thực. Trong chùa có vị trụ trì chăm lo vấn
đề tứ sự. Chư tăng không còn quấn y như Đức Phật mà mặc áo thụng
như người Trung quốc. Như thế là tiến bộ hay thoái hóa? Tùy hảo
ý của quý vị.
Bây giờ Đức Phật mới gọi tôn giả Đại Ca Diếp đến và bảo:
- Này Đại Ca Diếp! Ông hãy đến thăm bệnh trưởng giả Duy Ma
Cật vì ông ấy đang có bệnh.
Tôn giả thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh ông
Duy Ma Cật. Vì con nhớ trước đây, một hôm nọ con đi khất thực
trong một xóm nghèo, ông Duy Ma Cật gặp và nói cho con một thời
pháp dài rằng:
- Thưa ngài Đại Ca Diếp! Ngài có tâm từ
mà không phổ biến, chẳng bình đẳng đối với chúng sinh. Ngài chừa
nhà giàu, tìm nhà nghèo mà khất thực. Thưa ngài Đại Ca Diếp! Hãy
nên trụ ở pháp bình đẳng, khất thực theo thứ tự của xóm làng.
Không phải vì ăn mà khất thực thì mới nên đi khất thực. Nhằm
hoại diệt cái thân tướng hòa hiệp này mà bốc cơm ăn. Phải sử
dụng cái ý tưởng không thọ nhận, mới thọ nhận thức ăn. Vào xóm
làng, phải tưởng như đến chỗ không người. Thấy sắc mà như đui.
Nghe thanh như nghe vang. Ngưởi hương như hít gió. Nếm vị nhưng
không phân biệt. Thọ xúc như trí chứng. Biết tướng của các pháp
như huyễn, xưa vốn không sanh cho nên nay không có diệt.
Trong bất cứ xã hội nào ngay cả tại Hoa kỳ thì người nghèo vẫn
chiếm đa phần, nhưng chuyện giàu nghèo là chuyện của nhân quần
xã hội, là chuyện của chúng sinh vì con người chính là cái quả
mà họ thọ nhận từ những cái nhân tác tạo từ bao đời trước. Nhưng
nghèo không phải nhất thiết là khổ vì nếu biết sống “tri túc
thiểu dục” thì cũng có an vui hạnh phúc như thường. Do đó cổ
nhân có câu: “Thanh bần thường lạc” là có. Còn giàu chưa chắc là
sung sướng. Nếu con người làm giàu bằng cách bất chánh, bất
lương, bất nhân, bất nghĩa thì tuy bên ngoài là giàu có nhưng
bên trong lúc nào cũng lo âu, sợ sệt và đau khổ triền miên. Vì
thế cổ nhân cũng đối lại là “Trọc phú đa ưu” là vậy.
Như thế thì quan niệm giàu là người có đầy đủ phước đức và được
hưởng nhiều hạnh phúc là sai và nói rằng nghèo là kẻ đáng thương
nên cần sự giúp đở để cho họ hưởng được phần nào hạnh phúc cũng
là sai. Đo đó đối với chư Tăng nên nhìn bằng tuệ nhãn chớ không
đánh giá khổ vui qua hình thức tiền của giàu nghèo. Tâm bình
đẳng là tâm không còn phân biệt và đây là do đạo đức và quả
chứng của người tu mà được. Khi thấy có nghèo và giàu là còn kẹt
trong vòng phân biệt nhị nguyên, còn so sánh đối đãi, còn chấp
tướng, còn sống với vọng chứ chưa phải Chân. Nếu đi khất thực
theo thứ tự ở xóm làng để tùy duyên hóa độ làm phước điền cho
chúng sinh mà tâm không phân biệt giàu nghèo, sang khó thì tâm
mới được an nhiên tự tại mà xóa bỏ biên giới nhị nguyên để quay
về với tự tánh thanh tịnh bình đẳng nhất như.
Không phải vì ăn mà khất thực thì mới nên đi khất thực.
Thông thường có đói mới đi kiếm ăn vì thế nếu không ăn thì cần
gì phải đi khất thực? Nhưng ở đây không phải vì ăn có ý nghĩa
sâu xa là không quan tâm, chú ý đến miếng ăn. Ăn chẳng cần ngon
dở, không chạy theo mùi vị thì tâm không dính mắc, thanh thoảng
và tự tại. Ăn là để nuôi thân mà tu đạo chớ không phải ăn để tạo
thêm phiền não hay bồi dưỡng, cung phụng thân thái quá mà gây ra
nghiệp để chịu quả khổ về sau. Không phải vì ăn cũng có nghĩa là
tâm không mong cầu miếng ăn mà mục đích khất thực là để phá trừ
ngã chấp, phát triển tâm bình đẳng và làm phước điền cho tất cả
chúng sinh. Nếu nói về Sự Tướng thì có khất thực, có người, có
ta, có thức ăn, có cúng dường bố thí, nhưng nếu nói về Thể Tánh
thì ta cũng không mà chúng sinh cũng không thì làm gì có chuyện
cúng dường, bố thí hay đi khất thực. Chuyển Tâm thành Tánh thì
làm cũng như không làm, khất thực cũng như không khất thực chính
là việc làm của Bồ-tát. Vì Bồ-tát không còn chấp ngã chấp pháp
và tâm bình đẳng nên họ rất an nhiên tự tại.
Nhằm hoại diệt cái thân tướng hòa hiệp này mà bốc cơm ăn.
Khi ăn con người thường đem món nầy chấm với món nọ để tăng thêm
khẩu vị. Chẳng hạn như đem đậu hủ chấm với tương thì mặn mà hơn.
Cái mà chúng ta nghĩ là mặn mà, ngon miệng hơn chính là sự phát
triển của Thiệt Thức Giới tức là cái biết phân biệt của lưởi.
Còn phân biệt là còn chạy theo vọng trần tức là tăng trưởng tính
tham ăn. Mà còn tham là còn khổ, còn sinh tử luân hồi. Cho nên
trước khi ăn, chư Tăng trộn chung tất cả thức ăn với nhau để
không còn phân biệt ngon dở, không còn phân biệt mùi vị tức là
phá tướng hòa hiệp rồi mới bốc ăn. Vì người Ấn Độ ăn bốc chớ
không cầm đủa như người Việt Nam hay muổn nỉa như người Tây
phương.
Phải sử dụng cái ý tưởng không thọ nhận, mới thọ nhận thức
ăn.
Không thọ nhận có nghĩa là không lãnh thọ nhửng cảm xúc do trần
cảnh bên ngoài tạo ra, tránh xa những cám dỗ của thế gian có
nghĩa là không thấy thức ăn ngon thì vui, thức ăn dở thì buồn
mà phải giữ tâm bình đẳng thanh tịnh tức là thí chủ cúng gì cũng
vui vẻ mà nhận. Thật ra thì thọ nhận bất cứ sự cúng dường nào
của thí chủ từ thức ăn, quần áo, thuốc men…thì chư Tăng phải coi
như là nợ của thí chủ. Nếu không dụng tâm tu hành chân chánh và
đem pháp thí đền bù lại thì làm sao trả nổi món nợ nầy. Có thấu
hiểu như vậy mới dám thọ nhận thức ăn.
Như vậy nếu đứng về Sự Tướng thì thấy có người cúng dường và kẻ
thọ nhận thức ăn. Nhưng dựa theo Lý Tánh thì không có người cho
mà cũng chẳng có kẻ nhận. Do đó Lý Tánh là bên trong nên không
thấy có nhận mà Sự Tướng bề ngoài thì có nhận thức ăn để làm
phước điền cho chúng sinh.
Vào xóm làng, phải tưởng như đến chỗ không người.
Vào xóm làng là chỗ náo nhiệt đông người mà như đến chỗ không
người, đồng trống có nghĩa là đừng nên chấp có ta và có người.
Ta cũng không mà người cũng không thì tâm mới thanh tịnh. Nếu
còn thấy có người thì còn phải đối đầu trong thì có nội ma và
ngoài thì có ngoại chướng. Những cám dổ Tham-Sân-Si ái dục phiền
não lúc nào cũng là những chướng ngại để phá hoại công phu tu
hành. Vì thế vào xóm làng là đi vào đời để độ đời chớ đừng để
đời lôi cuốn nhận chìm. Nên nhớ cuộc đời thì vô thường, trước có
sau không, nay còn mai mất mà con người cứ cố gắng vơ vét, tích
lũy, làm nô lệ cho lòng tham và gây khổ cho nhiều người. Nhưng
họ quên rằng càng vơ vét, càng có nhiều của cũng giống như kẻ
mang đá mà nhảy xuống sông, làm sao bơi nổi.
Thấy sắc mà như đui. Nghe thanh như nghe vang. Ngửi hương như
hít gió. Nếm vị nhưng không phân biệt.
Khi lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) tiếp xúc với lục
trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) thì tâm phát sinh trí
phân biệt. Chẳng hạn như khi mắt thấy cái nhà thì tâm liền phân
biệt là nhà nầy thì lớn hay nhỏ, đẹp hay xấu… Tai mỗi khi nghe
tiếng khen thì thích nghe tiếng chê thì buồn. Lưỡi nếm mùi vị
thơm ngon thì khoái ăn, muốn ăn cho nhiều còn nếu nếm mùi vị
đắng, tanh hôi thì khạc nhổ, bực mình khó chịu. Vì thế nếu mắt
thấy sắc mà như đui, tai nghe âm thanh mà như điếc…thì tâm không
còn phân biệt đẹp xấu, ngon dở…, không còn chấp trước, không
luyến theo trần cảnh, không ưa, không ghét, không tham, không
đắm và đây chính là sống với pháp bình đẳng vậy. Cho nên trong
kinh Kim Cang cũng có câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” tức
là đừng để tâm mình dính mắc là vậy. Lục căn tiếp xúc lục trần
sinh ra lục thức mà căn, trần và thức đều là duyên giả hợp nên
tất cả là vô thường vô ngã. Nhưng nếu không có sự phân biệt đẹp
xấu hay ngon dở thì cuộc sống còn ý nghĩa chăng? Khi lưỡi chúng
ta nếm một món ăn nào thì dĩ nhiên lưỡi biết thức ăn đó là ngon
hay dở vì phản ứng của trực giác nhưng không phân biệt theo Phật
giáo có nghĩa là tuy lưỡi nếm vị ngon biết ngon vị dở biết dở
nhưng đừng để tâm phát khởi ý niệm để luyến theo cái ngon và
chán ghét cái dở thì đây cũng như nếm mà không biết mùi vị là
vậy. Cũng như khi mắt thấy một chiếc xe thì dĩ nhiên chúng ta
biết chiếc xe đó đẹp hay xấu nhưng tâm không dấy niệm tham luyến
muốn chiếm lấy cái xe đẹp thì thấy mà như đui là thế.
Thọ xúc như trí chứng. Biết tướng của các pháp như huyễn, xưa
vốn không sanh cho nên nay không có diệt.
Như trí chứng là trí thật, là chân lý. Khi có sự xúc chạm thì
phát sinh ra cảm giác. Mà cảm giác là có vui, có buồn, có thích,
có chán và đây chính là hệ quả của tình cảm mông lung của con
người đưa đến phiền não khổ đau. Bây giờ con người cũng cảm thọ
những cảm xúc đó mà không chạy theo tình cảm mà quay về với cái
trí chứng như thật. Bởi vì tất cả cái xúc chạm chúng ta đều thấy
nó như là huyễn hóa, không có thật cho nên tâm sẽ không còn ô
nhiễm. Vì các pháp là huyễn, không thật, không tự tánh tức là
Không. Mà đã là Không thì làm gì có thỉ có chung.
Còn nữa, thưa ngài Đại Ca Diếp! Có thể không cần rời bỏ bát
tà mà được bát giải thoát. Ngay nơi tà pháp mà thế nhập chánh
pháp. Một chút thức ăn có thể đem bố thí cho tất cả, có thể cúng
dường chư Phật và các hiền thánh, sau đó mới đáng ăn.
Bát tà là đối ngược lại với Bát Chánh Đạo vì thế Bát tà gồm có:
Tà kiến, Tà tư duy, Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, Tà tinh tấn, Tà
niệm và Tà định. Còn Bát giải thoát cũng được gọi là Bát Bội Xả
là tám pháp thiền định có công năng xa lìa tất cả phiền não và
thoát khỏi những phiền trược trong ba cõi.
Nếu đứng về pháp tướng tương đối mà nói thì có chánh có tà, có
thiện có ác, có tốt có xấu và dĩ nhiên còn thấy đau khổ bất
tịnh. Chân lý mà ông Duy Ma Cật giới thiệu ở đây là Lý Tánh
tuyệt đối có nghĩa là trong Bản Thể Chân Như không hề có biên
giới của nhị nguyên để không còn phân biệt chánh với tà, thiện
với ác hay tốt với xấu…vì chánh tà, thiện ác, tốt xấu vốn không
hai tức là một.Vì thế môt khi chúng sinh sống với nguyên lý nhất
như thì từ nơi phiền não mà họ sẽ tìm thấy Bồ-đề, ngay trong
cuộc sống sinh tử khổ đau nầy mà họ vẫn tìm thấy Niết bàn và ở
trong tất cả mọi chúng sinh mà họ vẫn tìm thấy Phật tính thanh
tịnh. Cũng như khi cát bụi lắng xuống thì thấy nước trong ở
trong lu nước đục và thấy hoa sen hương thơm tinh khiết ở trong
ao bùn lầy tanh hôi dơ dáy. Nguyên lý bất nhị tức là tinh thần
bình đẳng của nhà Phật bởi vì đến đây chúng sinh sẽ không còn
thấy bên kia tà, bên nầy chánh. Bên kia pháp trói buộc và bên
nầy là pháp giải thoát. Khi không còn kẹt bên nầy, bên kia thì
từ một thức ăn mà có thể đem bố thí cho tất cả đó chính là chỉ
cho sự bình đẳng không sai khác có nghĩa là tất cả là một và một
là tất cả.
Ông Duy Ma Cật nói tiếp:
Ăn bằng cách như vậy, sẽ không có phiền não cũng không rời phiền
não. Không dụng ý nhập định cũng không dụng ý xả định. Không trụ
thế gian cũng không trụ Niết bàn.
Người thí chủ không có phước lớn cũng không có phước nhỏ,
không thêm công đức cũng chẳng mất công đức. Đây là con đường
vào Phật đạo thừa chân chánh, không chờn vờn khập khiểng ở cỗ xe
bé bỏng của Thanh văn.
Các câu nầy đều tiến về cái nhất tướng bình đẳng để không còn có
phiền não hay thoát ly phiền não. Cũng không có nhập định và
xuất định và dĩ nhiên cũng không có trụ thế gian và trụ Niết
bàn. Khi đã tới chỗ bình đẳng thì tất cả tuy hai nhưng mà một.
Ngay cả cái nhìn đối với người thí chủ bây giờ cũng rất bình
đẳng cho nên họ cũng chẳng có phước lớn hay phước nhỏ và công
đức cũng chẳng thêm mà cũng chẳng mất vì lớn nhỏ, mất còn vốn
bất nhị tức là một. Tâm bình đẳng là tâm Bồ-tát để giúp chúng
sinh sớm viên thành Phật đạo mà không còn kẹt trong vòng phân
biệt đối đãi như các vị A La Hán trong hàng Thanh văn.
Thưa ngài Đại Ca Diếp! Nếu được như thế mà ăn thì mới không
luống uổng thức ăn của người thí chủ cúng dường.
Tôn giả Đại Ca Diếp vì thương người nghèo mà đến khất thực để
giúp họ tạo phước điền tức là còn tâm phân biệt đối đãi giàu
nghèo. Đôi khi các vị A La Hán trong hàng Thanh văn hay các vị
Bích Chi Phật trong hàng Duyên giác thấy đời đầy phiền não khổ
đau và chúng sinh nghiệp chướng sâu dày nên họ sợ ô nhiễm, không
dám vào đời cứu độ mà rút tận vào chốn rừng sâu để riêng hưởng
Niết bàn và đưa Phật giáo vào chỗ bế tắc. Lúc Đức Phật còn tại
thế đã quở những hành động nầy là mầm thối nát không mang lại
lợi ích cho thế gian. Do đó sau khi thấu hiểu tư tưởng đại thừa
và công hạnh vị tha của chư Bồ-tát thì tôn giả Đại Ca Diếp phát
tâm cung kính từ nay sẽ tu theo Bồ-tát đạo và nguyện thực hành
các hạnh lành để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Ngày xưa mỗi
khi đi khất thực ông thường đem hạnh Thanh văn, Bích Chi Phật
khuyên dạy người, nay biết rằng tư tưởng Tiểu thừa chưa phải rốt
ráo nên nguyện chỉ đem thuyết đại thừa để giúp chúng sinh phát
Bồ-đề tâm, tu theo Bồ-tát đạo và sớm được viên thành Phật đạo.
Vậy sự khác biệt của hai tư tưởng Tiểu thừa và Đại thừa về khất
thực như thế nào?
Đối với chư Bồ-tát thì quan điểm về khất thực phải có những ý
nghĩa sau đây:
1) Người khất thực phải coi miếng ăn là phụ mà giáo hóa chúng
sinh mới là chính.
2) Phải xem việc tạo phước cho chúng sinh là phụ mà dạy cho
chúng sinh phát Bồ-đề tâm đi vào Phật đạo mới quan trọng bởi vì
pháp liễu nghĩa thượng thừa không chủ trương cúng dường để được
phước đức mà pháp nầy cũng không chủ trương chú nguyện ban phước
đức cho người cúng dường.
3) Thuyết pháp cho chúng sinh là phụ mà đoạn trừ phiền não vô
minh cho chính mình mới là tối quan trọng vì có tự giác mới giác
tha được.
4) Dạy cho chúng sinh thành Phật là phụ mà tăng tiến bồi dưỡng
trí tuệ Phật cho mình mới là chính.
Tư tưởng Duy Ma Cật đã phân tích rõ ràng những tiến trình của
người bố thí và kẻ nhận dựa vào pháp Nhất Thừa Phật Đạo để khai
thị cho tôn giả Đại Ca Diếp thấy sự rốt ráo mà đạt đến cứu cánh
cho cả người bố thí và kẻ nhận là cùng viên thành Phật đạo.
Bạch Thế Tôn! Ông Đại Ca Diếp thưa. Lúc con nghe bài pháp ấy
rồi, con được cái chưa từng có. Ngay lúc đó con sanh tâm cung
kính chư Bồ-tát một cách thân thiết chân thành. Vì con nghĩ
rằng, ngoài địa vị Bồ-tát, không ai có trí tuệ biện tài thâm
diệu như thế. Thảo nào người nghe ai mà chẳng phát tâm vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Từ đó về sau con không khuyên dạy ai học
tu theo pháp của Thanh văn, Bích chi Phật nữa. Vì lẽ đó con
không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
Tôn giả Đại Ca Diếp nhận thức được sự thua kém của mình mà không
lấy đó làm điều xấu hổ. Chẳng những thế ông còn chú nguyện phát
tâm đại thừa, từ bỏ con đường ích kỷ nhỏ hẹp mà tiến về đại lộ
bao dung rộng lớn để cùng mang lại lợi ích cho mình và cho tất
cả chúng sinh. Có phá được chấp ngã, chấp pháp thì mới đạt được
tâm bình đẳng của Bồ-tát. Nhưng tại sao tôn giả không dám đi
thăm bệnh?
Muốn đại diện cho Đức Phật đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật tức là
vị sứ giả của Phật thì người đó phải có trí tuệ sáng suốt tột
cùng, có biện tài vô ngại để làm rạng danh cho Đức Thế Tôn.
Những điều đó các vị A La Hán không thể có được. Vì thế mà ông
từ chối không dám lãnh trách nhiệm nầy mà dành vai trò danh dự
cho vị nào có đủ tài đủ đức mà thôi. Một lần nữa đoạn kinh nầy
đã chứng minh sự giác ngộ từng phần của hàng Thanh văn không thể
nào so sánh với trí tuệ viên mãn của chư Bồ-tát được.
Đối với tư tưởng Tiểu thừa thì người bố thí có được phước còn
người nhận của bố thí là người mang nợ. Do đó kẻ cho thì cầu
mong được nhiều phước đức còn kẻ nhận thì phải cố gắng tu hành
để trả nợ đàn na thí chủ. Vì thế hai bên đều bị ràng buộc không
tự tại được. Bây giờ tư tưởng Đại thừa mở rộng cho chúng sinh
một lối nhìn mới, không còn bị hạn chế ràng buộc để chúng ta có
thể đi thong dong trên con đường Bồ-tát đạo. Kinh Kim Cang dạy
rằng: “Bố thí vô tướng và độ sanh vô ngã” và “Ưng vô sở trụ nhi
sanh kỳ tâm” tức là khi bố thí và giúp người thì đừng có chấp
ngã chấp tướng và cũng đừng để tâm dính mắc nơi sáu trần thì làm
bất cứ việc gì trên thế gian nầy cũng rất an vui tự tại. Tư
tưởng Đại thừa là bố thí mà không thấy mình có bố thí nên không
còn mong cầu phước đức và trông đợi đền ơn. Cho mà không biết
mình cho và nhận mà không thấy mình nhận thì mới cho và nhận
chân thật tức là không còn dính mắc. Người cho bây giờ không còn
mong cầu phước đức mà là phương cách tu hành để thanh lọc nội
tâm, tẩy trừ tham-sân-si, ngã, mạn mà tiến thẳng về giải thoát
giác ngộ. Thế thì người cho kẻ nhận đều có lợi vì cả hai đều có
thể đạt được quả vị Bồ-đề. Đây mới là chân bố thí của Đại thừa
vì con người không còn lệ thuộc tình cảm của thế gian mà sống
với lý trí sáng suốt triệt để của mình.
Kinh Bát nhã cũng nói thêm: “Tất cả các pháp lành đều nhiếp vào
Bát nhã Ba-la-mật-đa sâu thẳm” nghĩa là nếu con người sống được
với trí tuệ Bát nhã thì coi tất cả chúng sinh như nhau. Ai khổ
thì giúp, ai mê thì gọi cho thức tỉnh mà tâm không mong cầu đền
đáp nên việc làm được viên mãn. Còn nếu chưa sống được với trí
tuệ Bát nhã, tuy có làm Phật sự trên hình tướng nhưng làm một
lúc không sao tránh khỏi sự thiên chấp thân, sơ, thương,
ghét…nên việc làm không viên mãn.
|
|